Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 167

  • Tổng 19.198.343

Tin Demo - Những yếu tố đặc trưng của hoạt động thanh tra chuyên ngành (

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Những yếu tố đặc trưng của hoạt động thanh tra chuyên ngành là những dấu hiệu để phân biệt hoạt động thanh tra chuyên ngành với các hoạt động thanh tra, kiểm tra.

 

Qua nghiên cứu chúng ta có thể nhận thấy những yếu tố đặc trưng của hoạt động thanh tra chuyên ngành gồm: 
- Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành: về khía cạnh pháp luật thì mục đích của hoạt động thanh tra đã được quy định trong Luật thanh tra. Tuy nhiên, có sự khác biệt về mục đích hoạt động thanh tra giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Nếu hoạt động thanh tra hành chính chủ yếu tập trung vào việc kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ công vụ của cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước làm lành mạnh hóa bộ máy nhà nước thì hoạt động thanh tra chuyên ngành lại chủ yếu hướng tới việc kiểm soát hoạt động chấp hành chính sách, pháp luật của mọi đối tượng trong xã hội nhằm phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Về chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành: chủ thể tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành là cơ quan nhà nước quản lý theo ngành, lĩnh vực. Theo quy định của Luật thanh tra năm 2004 thì hoạt động thanh tra chuyên ngành được thực hiện bởi cơ quan thanh tra được tổ chức theo ngành, lĩnh vực đó là thanh tra bộ, thanh tra sở. Luật thanh tra năm 2010 thì chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành là thanh tra  bộ, thanh tra sở, thanh tra cục, tổng cục và chi cục thuộc sở. Trong khi đó, hoạt động thanh tra hành chính thì chủ thể tiến hành thanh tra là các thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước theo cấp cấp hành chính và cơ quan thanh tra theo cấp hành chính như thanh tra chính phủ, thanh tra tỉnh, thanh tra huyện.
Xét dưới góc độ quản lý nhà nước thì các cơ quan thanh tra tổ chức theo ngành lĩnh vực cũng là cơ quan giúp cơ quan, thủ trưởng cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực đó là bộ trưởng, giám đốc sở. Theo quy định của Luật thanh tra 2010 thì hoạt động thanh tra chuyên ngành còn được thực hiện bởi cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành đó là các tổng cục, cục thuộc bộ; chi cục thuộc sở được trao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành...Tại  điều 51 Luật thanh tra 2010 quy định về thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành và phân công Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập, theo đó Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra.
- Hình thức thanh tra chuyên ngành: khác với hoạt động thanh tra hành chính chỉ được thực hiện thông qua đoàn thanh tra. Hoạt động thanh tra theo chương trình, kế hoạch thanh tra và thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật... Hoạt động thanh tra chuyên ngành có thể được thực hiện thông qua đoàn thanh tra chuyên ngành, thanh tra viên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện. Hoạt động thanh tra không chỉ theo chương trình, kế hoạch hay thanh tra đột xuất mà còn được thực hiện thường xuyên.
- Nguyên tắc tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành: bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra đó là việc thanh tra tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời. Hoạt động thanh tra không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Pháp luật hiện hành quy định nguyên tắc tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành là Hoạt động thanh tra chuyên ngành do Đoàn thanh tra chuyên ngành, Thanh tra viên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện. Hoạt động thanh tra chuyên ngành phải được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.
- Đối tượng của hoạt động thanh tra chuyên ngành: khác với đối tượng thanh tra của thanh tra hành chính là hướng tới đối tượng trong bộ máy, người thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, đối tượng của hoạt động thanh tra chuyên ngành bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực quản lý của các ngành. Theo đó, đối tượng của thanh tra chuyên ngành rất rộng bao gồm cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, cá nhân... ví dụ thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực y tế...; thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực tài chính...; thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa....Đối tượng hoạt động thanh tra chuyên ngành khác với đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính – cán bộ, công chức và các cơ quan hành chính nhà nước.
- Trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành: hoạt động thanh tra chuyên ngành được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định có sự khác biệt với hoạt động thanh tra hành chính. Theo đó, nếu như hoạt động thanh tra hành chính chỉ được tiến hành theo Đoàn thanh tra với thành phần đoàn thanh tra gồm trưởng đoàn thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra thì đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành có thể được thực hiện thông qua đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên tiến hành độc lập hoặc người được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thực hiện.  Với đặc thù của hoạt động thanh tra chuyên ngành đòi hỏi phải tiến hành nhanh chóng và đặc biệt là trong nhiều tình huống là xử lý ngay các hành vi vi phạm pháp luật chuyên ngành đảm bảo pháp chế ... pháp luật quy định trình tự thủ tục thanh tra chuyên ngành của các ngành lực vực có thể có những khác biệt so với hoạt động thanh tra hành chính. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định đặc thù liên quan đến hoạt động thanh tra chuyên ngành như việc xây dựng Kế hoạch thanh tra chuyên ngành, phê duyệt kế hoạch thanh tra...Nói tóm lại, trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra chuyên ngành được Luật thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành có nhiều khác biệt so với trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra hành chính.
- Về thời hạn tiến hành cuộc thanh tra chuyên ngành:  theo quy định của Luật thanh tra năm 2004 thì thời hạn thanh tra chuyên ngành được tính ngắn hơn so với thời hạn của cuộc thanh tra hành chính. Đến luật thanh tra năm 2010, thời hạn thanh tra được quy định Cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành không quá 60 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá 90 ngày. Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 150 ngày; Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến hành không quá 45 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dái, nhưng không quá 70 ngày; Cuộc thanh tra do Thanh tra huyện, Thanh tra sở tiến hành không quá 30 ngày; ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 45 ngày. Thời hạn của cuộc thanh tra được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra.  Việc kéo dài thời hạn thanh tra quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật thanh tra do người ra quyết định thanh tra quyết định.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: internet
Cụ thể hóa quy định liên quan đến thời hạn thanh tra của Đoàn thanh tra chuyên ngành, Điều 16 Nghị định 07/2012/NĐ-CP quy định Cuộc thanh tra chuyên ngành do Thanh tra bộ, Tổng cục, Cục thuộc Bộ tiến hành không quá 45 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày; Cuộc thanh tra chuyên ngành do Thanh tra sở, Chi cục thuộc Sở tiến hành không quá 30 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày. Thời hạn của cuộc thanh tra được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra. Việc kéo dài thời hạn thanh tra do người ra quyết định thanh tra chuyên ngành quyết định.
Đặc điểm liên quan đến thẩm quyền của các chủ thể khi tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành:  Luật thanh tra đã quy định cụ thể thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên khác của đoàn thanh tra và thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập cũng như người được giao thực hiện chức năngthanh tra chuyên ngành. Thẩm quyền của các chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành khác với các chủ thể tiến hành thanh tra hành chính đặc biệt là quyền xử phạt vi phạm hành chính của thanh tra viên chuyên ngành và bên cạnh các quy định của Luật thanh tra thì thẩm quyền của thanh tra viên chuyên ngành và người được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành còn được quy định ở trong luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như những văn bản chuyên ngành./.
 
Ths. Nguyễn Văn Tuấn
Trưởng phòng, Vụ PC, TTCP
Nguồn: thanhtravietnam.vn (16/04/2014)

Các tin khác