Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 3

  • Hôm nay 1041

  • Tổng 19.192.454

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỐ 84/2025/QH15 (LUẬT THANH TRA NĂM 2025)

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Luật số 84/2025/QH15 (Luật Thanh tra năm 2025) đã được Quốc hội thông qua sáng ngày 25/6/2025 với 443/445 tổng số đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành, đạt tỷ lệ 99,68%.

2.jpg

Ảnh (St): Quốc hội thông qua Luật Thanh tra (sửa đổi) năm 2025

Luật Thanh tra năm 2025 gồm 09 chương, 64 điều giảm 54 điều so với Luật số 11/2022/QH15 (Luật Thanh tra năm 2022). Bố cục của Luật Thanh tra năm 2025 như sau:

Chương I. Những quy định chung: gồm 06 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; mục đích, nguyên tắc, chức năng của cơ quan thanh tra; các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra.

Chương II. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra: gồm 11 điều (từ Điều 7 đến Điều 17), 03 Mục (Thanh tra Chính phủ; Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Ngân hàng nhà nước; Thanh tra tỉnh). 

Chương III. Hoạt động thanh tra: gồm 20 điều (từ Điều18 đến Điều 37), quy định về xây dựng, ban hành Định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra; hình thức thanh tra; thời hạn thanh tra; trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra

Chương IV. Nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành thanh tra: gồm 12 điều (từ Điều 38 đến Điều 49), quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra...

Chương V. Quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong hoạt động thanh tra: gồm 02 điều (từ Điều 50 đến Điều 51).

Chương VI. Thực hiện kết luận thanh tra: gồm 04 điều (từ Điều 52 đến Điều 55) quy định về trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thanh tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, đối tượng thanh tra...

Chương VII. Phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, kiểm sát, kiểm tra: gồm 03 điều (từ Điều 56 đến Điều 58).

Chương VIII. Điều kiện bảo đảm hoạt động thanh tra: gồm 02 điều (từ Điều 59 đến Điều 60).

Chương IX. Điều khoản thi hành: gồm 04 điều (từ Điều 61 đến Điều 64).

Sau đây là một số nội dung cơ bản của Luật Thanh tra năm 2025

1. Nội dung kế thừa:

Luật Thanh tra năm 2025 đã kế thừa 30/118 điều của Luật Thanh tra năm 2022 (Điều 1, 4, 10, 22, 46, 49, 52, 53, 54, 59, 67, 71, 73, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 102, 104, 108, 109, 113 của Luật Thanh tra năm 2022); gồm các quy định về: phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc hoạt động, trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra....

2. Nội dung sửa đổi, hoàn thiện:

Luật Thanh tra năm 2025 đã sửa đổi, hoàn thiện 23/118 điều của Luật Thanh tra năm 2022 (Điều 2, 3, 9, 14, 15, 16, 38, 44, 47, 56, 60, 68, 73, 75, 77, 79, 96, 97, 103, 105, 107, 112, 117 của Luật Thanh tra năm 2022); các nội dung sửa đổi, hoàn thiện bao gồm:

- Quy định về các cơ quan thanh tra: Theo Điều 7 của Luật Thanh tra (sửa đổi) năm 2025, các cơ quan thanh tra: (1) Thanh tra Chính phủ; (2) Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (3) Cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra Cơ yếu; (4) Cơ quan thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; quy định cụ thể về Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.

Như vậy, các cơ quan thanh tra không còn: Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ, cơ quan thanh tra ở cơ quan thuộc Chính phủ, Thanh tra sở, Thanh tra huyện, tổ chức và hoạt động của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.

- Quy định về khái niệm “thanh tra”: Theo khoản 1 Điều 2 của Luật Thanh tra năm 2025: “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị xử lý của cơ quan thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.

Như vậy, Luật Thanh tra năm 2025 không quy định các khái niệm về thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành...

- Quy định về trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện kết luận thanh tra: Theo khoản 3 Điều 53 của Luật Thanh tra năm 2025: “Đối tượng thanh tra có trách nhiệm thực hiện việc khắc phục các sai phạm về kinh tế, xử lý cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật nêu trong kết luận thanh tra; báo cáo kết quả thực hiện đến cơ quan ban hành kết luận thanh tra. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc trong thực hiện kết luận thanh tra thì báo cáo cơ quan ban hành kết luận thanh tra để trình Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xem xét, xử lý”; quy định về công bố quyết định thanh tra theo hướng quyết định thanh tra phải được công bố chậm nhất là 15 ngày làm việc kể từ ngày ban hành.

- Quy định về thời gian xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra có sự thay đổi: Theo khoản 2, Điều 18 của Luật Thanh tra năm 2025 thì các mốc thời gian xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra dựa trên Định hướng chương trình thanh tra đã lùi lại muộn hơn so với các quy định tại Luật Thanh tra năm 2022

- Các quy định: căn cứ ban hành quyết định thanh tra, thẩm định dự thảo kết luận thanh tra, ban hành kết luận thanh tra, nhiệm vụ, quyền của người tiến hành thanh tra, trách nhiệm của đối tượng thanh tra, giải quyết khiếu nại trong hoạt động thanh tra

3. Nội dung lược bỏ:

 Luật Thanh tra năm 2025 đã lược bỏ 54/118 điều của Luật Thanh tra năm 2022  (Điều7, 13, 17, 18, 19, 20, 21, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 39, 40, 41, 42, 43, 45, 48, 50, 51, 55, 57, 58, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 69, 72, 74, 76, 93, 94, 95, 98, 99, 100, 101, 106, 110, 111, 114, 115 của Luật Thanh tra năm 2022); cụ thể:

- Lược bỏ hoàn toàn quy định về Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ, cơ quan thanh tra ở cơ quan thuộc Chính phủ, Thanh tra sở, Thanh tra huyện, tổ chức và hoạt động của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành...

- Lược bỏ nội dung ở Luật để phân quyền cho Chính phủ ban hành Nghị định quy định về cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ và các cơ quan thanh tra, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm thanh tra viên; trang phục, thẻ thanh tra; xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra; hồ sơ thanh tra; sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra; xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo...

4. Nội dung bổ sung:

Luật Thanh tra năm 2025 đã bổ sung một số nội dung sau:

- Bổ sung nhiệm vụ cho các cơ quan thanh tra trong công tác phòng, chống lãng phí. Đây là sự bổ sung cần thiết, xuất phát từ thực tiễn các nguồn lực của nhà nước không được sử dụng đúng mục đích gây thất thoát, lãng phí (Điều 5).

- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Thanh tra Chính phủ: Thanh tra Chính phủ tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ của 12 Thanh tra Bộ, bao gồm: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ đối với Bộ không có Thanh tra Bộ” (điểm d khoản 1 Điều 10), “thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ không có Thanh tra Bộ” (điểm đ khoản 1 Điều 10);

- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Thanh tra tỉnh: Thanh tra tỉnh tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra cấp huyện, Thanh tra sở, bao gồm: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc sở và Ủy ban nhân dân các cấp” (điểm b khoản 1 Điều 16), “thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các sở” (điểm c khoản 1 Điều 16).

- Bổ sung thêm thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc xem xét lại kết luận của Thanh tra Chính phủ (khoản 3, Điều 25).

- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Tổng Thanh tra Chính phủ: Đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cử công chức có chuyên môn phù hợp tham gia Đoàn thanh tra của Thanh tra Chính phủ khi thấy cần thiết (điểm e khoản 2 Điều 11);

- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Chánh Thanh tra tỉnh: Đề nghị Giám đốc Sở, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp cơ sở cử công chức có chuyên môn phù hợp tham gia Đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh khi thấy cần thiết (khoản 3 Điều 17).

- Bổ sung thêm trường hợp tạm dừng thanh tra: “Tình hình thực tế ảnh hưởng đến việc thanh tra trực tiếp do phải tập trung thực hiện nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền” (điểm b, khoản 1, Điều 30).

- Bổ sung hình thức thanh tra: Hoạt động thanh tra được tiến hành trực tiếp, trực tuyến và từ xa dựa trên dữ liệu điện tử (Khoản 2, Điều 19). Đây là một điểm mới quan trọng, phù hợp với xu thế chuyển đổi số và hiện đại hóa công tác thanh tra

- Bổ sung quy định về chuyển thông tin cho cơ quan điều tra trong hoạt động thanh tra: “Trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa xác định được hậu quả, thiệt hại xảy ra thì kết luận rõ và chuyển thông tin về vụ việc cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định pháp luật” (điểm d khoản 2 Điều 36).

- Bổ sung quy định về phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm sát, kiểm tra: Nếu Luật Thanh tra năm 2022 chỉ quy định về phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán nhà nước và điều tra thì Luật Thanh tra năm 2025 đã bổ sung thêm nội dung về phối hợp trong hoạt động thanh tra với kiểm sát, kiểm tra. Theo đó, “cơ quan thanh tra không thanh tra đối với những nội dung thuộc thẩm quyền kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính của Viện kiểm sát” (Điều 57) và “khi hoạt động thanh tra, kiểm tra có sự chồng chéo, trùng lặp thì cơ quan tiến hành thanh tra và cơ quan kiểm tra phối hợp để xử lý; trường hợp không thống nhất thì cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra. Qua công tác kiểm tra, trường hợp cần thanh tra làm rõ dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan thanhh tra có thẩm quyền tiến hành thanh tra” (Điều 58).

- Bổ sung quy định bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật, pháp lệnh, nghị quyết có liên quan đến thanh tra không còn phù hợp (Điều 62). Đồng thời bổ sung phương án xử lý các trường hợp phát sinh sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy tại quy định chuyển tiếp (Điều 64).

5. Nội dung về phân cấp, phân quyền:

Luật Thanh tra năm 2025 đã quy định một số nội dung nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng cường tính chủ động, chịu trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ, cụ thể như sau:

- Phân cấp cho Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh chủ động trong việc thanh tra công tác quản lý, sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp  sau khi báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp cho ý kiến về chủ trương (điểm g khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 1 Điều 16).

- Phân cấp cho Chánh Thanh tra Bộ Công an, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, Chánh Thanh tra Ngân hành Nhà nước, Chánh Thanh tra Cơ yếu, Thủ trưởng cơ quan thanh tra theo điều ước quốc tế, Chánh Thanh tra tỉnh ban hành kế hoạch thanh tra sau khi báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp cho ý kiến về chủ trương (khoản 2 Điều 19).

- Phân quyền cho Chính phủ quy định về cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ và các cơ quan thanh tra.

- Phân quyền cho Chính phủ quy định về việc quản lý, sử dụng kinh phí trích cho cơ quan thanh tra và chế độ đối với người làm việc trong cơ quan thanh tra; trang phục, chế độ cấp trang phục thanh tra cho Thanh tra viên (khoản 4 Điều 59).

- Phân quyền cho Chính phủ quy định chung về hoạt động kiểm tra trong các ngành, lĩnh vực để làm cơ sở triển khai hoạt động kiểm tra của các Bộ, ngành trong thời gian tới (khoản 2 Điều 61).

6. Các hành vi bị cấm trong hoạt động thanh tra:

Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra được quy định tại Điều 6 Luật Thanh tra năm 2025, đối chiếu với Điều 8 Luật Thanh tra năm 2022, đã bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra, đó là các hành vi sau:

- Bao che, cố ý bỏ lọt hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cố ý kết luận không có căn cứ pháp luật.

- Không xử lý hoặc kiến nghị xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; không xử lý hoặc kiến nghị xử lý, thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát, lãng phí được phát hiện qua thanh tra theo quy định.

- Chiếm đoạt, tiêu hủy, làm sai lệch tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra.

Như vậy, Luật Thanh tra năm 2025 được ban hành đã thể chế hóa các chủ trương, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/2/2025 về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Hệ thống cơ quan thanh tra tập trung, thống nhất, tinh gọn về một đầu mối theo 02 cấp ở Trung ương và địa phương; khắc phục những bất cập, hạn chế, chồng chéo, trùng lắp trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan thanh tra; làm rõ, bổ sung quy định cụ thể về cơ chế kiểm soát quyền lực, mối quan hệ công tác của hệ thống thanh tra các cấp, giữa Thanh tra Chính phủ với các Bộ, ngành, địa phương; từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới./.

  Cao Thị Lan Anh

Phó Trưởng Phòng Nghiệp vụ 6

Các tin khác